Thứ Tư, 29 tháng 2, 2012

Vu cuỡng che dat o Tien Lang - Hai Phong He luy va bai hoc dat gia (ky 1)

Giao duc |

Hiện chính quyền Tp. Hải Phòng đang rốt ráo thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Những sai phạm của chính quyền huyện Tiên Lãng đã rõ, bài viết này chỉ đề cập và phân tích sâu hơn một số bất cập trong việc thực thi Luật Đất đai trong tình hình hiện nay… Vụ cưỡng chế thu hồi đất ở huyện Tiên Lãng - Hải Phòng đối với ông Đoàn Văn Vươn đã gây sự chú ý, quan tâm đặc biệt của dư luận xã hội.



Kỳ I: Kết luận của Thủ tướng Chính phủ là chính xác


Kết luận của Thủ tướng Chính phủ về vụ việc này được sự đồng thuận cao trong nhân dân. Sự đồng thuận cao trong nhân dân với kết luận của Thủ tướng Chính phủ là trên cơ sở đạo lý, trên cơ sở pháp luật Nhà nước. Ví dụ: Quyết định giao đất để nuôi trồng thủy sản số 220/QĐ-UB ngày 9-4-1997 của UBND huyện Tiên Lãng giao đất cho ông Đoàn Văn Vươn đã căn cứ vào các Điều 24,48 và Điều 79 Luật Đất đai năm 1993 để giao đất. Việc căn cứ vào các điều luật này là đúng. (Điều 24 quy định về thẩm quyền giao đất. Điều 48 quy định về việc sử dụng đất có mặt nước ven biển để nuôi trồng thủy sản. Điều 79 quy định về nghĩa vụ của người sử dụng đất). Nhưng có nội dung quan trọng trong việc giao đất là thời hạn giao đất cho người sử dụng lại, không có căn cứ vào điều luật quy định về thời gian giao đất trong Luật Đất đai. Do đó, trong Quyết định giao đất số 220/QĐ-UB ngày 9-4-1997 mới quyết định tại Điều 1 là: "Thời gian sử dụng là 14 năm, tính từ ngày 4-10-1993".

Hải Phòng đã tiến hành thu hồi các quyết định thu hồi đất, quyết định cuỡng chế trái pháp luật


Thời hạn giao đất có 14 năm là không đúng với quy định trong Điều 20 Luật Đất đai năm 1993. Vì trong Điều 20 Luật Đất đai năm 1993 quy định thời hạn giao đất nuôi trồng thủy sản là "hai mươi năm" nên Quyết định giao đất số 220/QĐ-UB ngày 9-4-1997 của UBND huyện Tiên Lãng đối với ông Vươn là không đúng với Luật Đất đai năm 1993 (Thời hạn giao đất ít hơn thời hạn mà Luật Đất đai quy định về thời hạn giao đất là 6 năm).


Thời gian mà UBND huyện Tiên Lãng giao đất với thời gian UBND huyện Tiên Lãng có quyết định thu hồi đất thì Luật Đất đai đã có sự thay đổi nhiều nội dung.


Trong các Quyết định thu hồi đất số 460/QĐ-UBND ngày 23-4-2008 và Quyết định số 461/QĐ-UBND ngày 17-4-2009 của UBND huyện Tiên Lãng đều có: căn cứ vào Luật Đất đai năm 2003, vào Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ và lý do thu hồi đất là "đã hết thời hạn".


Tuy trong các quyết định thu hồi đất có căn cứ vào Luật Đất đai năm 2003 nhưng trong các quyết định thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng không căn cứ vào Điều 67 Luật Đất đai năm 2003 để giải quyết nguyện vọng của ông Vươn tiếp tục giao đất để nuôi trồng thủy sản.


Trong Điều 67 Luật Đất đai năm 2003 có quy định như sau: "Khi hết thời hạn, người sử dụng đất được Nhà nước tiếp tục giao đất, cho thuê đất nếu đất có nhu cầu tiếp tục sử dụng, chấp hành đúng pháp luật về đất đai trong quá trình sử dụng đất đó phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt".


Do đó trong kết luận của Thủ tướng Chính phủ có vấn đề giải quyết để ông Vươn tiếp tục sử dụng đất. Kết luận này của Thủ tướng là đúng với pháp luật đất đai hiện hành mà chúng tôi trích dẫn ở trên.


Cũng theo kết luận của Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ, Ngành, chức năng rà soát lại các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai để thuận tiện cho việc áp dụng pháp luật tránh sai phạm.


Về vấn đề này, chúng tôi thấy rằng, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là đáp ứng thực tế khách quan. Ví dụ: Trong Điều 13 Luật Đất đai hiện hành quy định, đất nông nghiệp bao gồm:


"a-Đất trồng cây hàng năm gồm: đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác.


b- Đất trồng cây lâu năm.


c- Đất rừng phòng hộ.


d- Đất rừng đặc dụng.


e- Đất nuôi trồng thủy sản.


g- Đất làm muối.


h-Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ.


Như vậy là có 8 loại đất gọi là đất nông nghiệp. Đối với đất nông nghiệp khác lại được quy định trong Điều 6 Nghị đinh số 181/2004/NĐ-CP.


Tuy nhiên, trong Luật Đất đai và các Nghị định của Chính phủ quy định thực hiện Luật Đất đai còn nhiều nội dung không rõ ràng, không thống nhất. Ví dụ 1:Điều 66 Luật Đất đai quy định: đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng quy định tại khoản 4 Điều 71 của Luật Đất đai được sử dụng ổn định, lâu dài. Quy định này được hiểu là 8 loại đất nói trên đều được sử dụng ổn định, lâu dài. Còn ổn định, lâu dài là bao nhiêu năm thì pháp luật lại không quy định rõ, nhưng người dân hiểu là: ổn định, lâu dài phải có thời gian nhiều hơn loại đất giao có thời hạn.


Tuy nhiên Điều 67 lại cắt giảm không cho các loại đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối được sử dụng ổn định lâu dài như quy định tại Điều 66 mà chỉ được giao sử dụng có 20 năm, như vậy là không đồng nhất.


Ví dụ 2: Trong Nghị định số 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định quá dài, có nhiều nội dung sao chép quy đinh trong Luật Đất đai. Cụ thể là: số điều trong nghị định này nhiều hơn số điều trong Luật Đất đai (Luật Đất đai có 143 Điều trong đó Nghị định có 186 Điều). Trong Điều 13 Luật Đất đai có quy định là: "Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ". Tuy nhiên, trong Điều 6 của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngoài nội dung quy định đất nào là đất "nông nghiệp khác" lại còn sao chép lại các loại đất được xác định là đất nông nghiệp quy định trong Điều 13 Luật Đất đai… Có nhiều nội dung cần quy định lại không quy định. Ví dụ: Trong Điều 136 Luật Đất đai có quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất, nhưng tranh chấp nào là tranh chấp về quyền sử dụng đất lại không quy định. Hoặc là: Trong Điều 13 Luật Đất đai có quy định: "Đất trồng cây hàng năm khác", nhưng đất nào là đất trồng cây hàng năm khác lại không quy định…


Từ sau ngày ban hành Luật Đất đai năm 2003 Chính phủ có quá nhiều Nghị định quy định việc thi hành Luật Đất đai nhưng cũng có nhiều quy định đã bị bãi bỏ. Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27-1-2006 của Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ nhiều điều quy định trong Nghị định số 181/2004/NĐ-CP và sửa đổi một số Nghị định khác làm cho người thực hiện rất dễ mắc sai phạm do có nhiều Nghị định. Để thuận tiện cho người thực hiện Chính phủ nên tổng hợp các Nghị định đã hướng dẫn thành một văn bản thống nhất, in thành sách để giúp người dân tìm hiểu và thực hiện.


Đỗ Văn Chỉnh


Theo www.baomoi.com

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét